Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn- Phú Yên online. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn- Phú Yên online. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Mộng du

29 Tháng Năm 2011 2:00 CH (GMT+0700)



“Đây có phải là giấc mơ không?”

Im lặng.

Màn đêm cựa quậy rồi rùng mình. Phía sau cũng là bóng tối dày đặc. Gương mặt đẹp với vành môi rất nhẹ sau mỗi nụ hôn dài lẩn khuất.

“Đây có phải là giấc mơ không?”

Lại im lặng. Vành môi khẽ bỏ đi. Tôi rơi hoài xuống những vực sâu hun hút. Không đau đớn, không lời oán trách nhưng toàn thân chống chếnh.


 Bao giờ Chi cũng về đúng lúc ấy, đánh thức tôi với bao mộng mị trong căn gác trọ hơn bốn mét vuông. Cánh cửa sổ duy nhất bị tòa nhà bên cạnh che khuất chỉ còn một thứ ánh sáng trắng khúc xạ sau tấm kính nhỏ. Căn phòng ngập trong những lộn xộn của những lần đi về vội vã, của vô số lần xáo trộn tìm đồ. Mùi giấy mới của những đống tạp chí chưa một lần lật mở, của mỹ phẩm, của cả vị biển Chi mang về sau chuyến đi dài ngày ở một miền quê nào xa lắc. Tôi nằm đó, lúc trống rỗng, lúc hỗn độn trong những mộng mị.

Tôi mường tượng ra những đứa trẻ anh đã dắt chúng đi. Gương mặt chúng là tấm gương phản chiếu một người phụ nữ đẹp ở đâu đó, sau bàn trang điểm, sau một cánh cửa sổ hay trên một chiếc giường. Tôi không biết gì về anh ngoài một gia đình đã vỡ và những đứa trẻ, hình như còn rất bé. Chi gần như gắt lên khi nghe hoài những lời lảm nhảm này và rủ cùng đi đến bệnh viện vì cả hai đều sắp phát điên.

Anh chưa bao giờ nói về một gia đình. Anh không thích có thêm những đứa trẻ.

“Đây có phải là giấc mơ không?”

Im lặng.

Tôi lao đến bên anh, tìm mọi ngóc ngách, xó xỉnh một tín hiệu, dấu vết của phụ nữ. Anh bình thản, mọi sự giải thích đều hợp lý và vành môi rất nhẹ. Tôi như con thác, ồn ã và lắng dịu dần khi đổ hết về hạ lưu, xuôi dòng. Anh đưa tôi về để xua tan mộng mị. Để khi đã khuất bóng, năm ngón run run chạm phải một sợi buộc tóc ai đó bỏ quên trong áo khoác mà anh khoác cho. Sợi dây với gam màu lạ mà tôi chưa bao giờ dùng.

Chi nói đi Vũng Tàu hai ngày. Vậy mà suốt một tuần chỉ còn mỗi một tín hiệu ò í e phát ra ngoài vùng phủ sóng. Đến ngày thứ tám, Chi về và đột nhiên rủ tôi uống rượu. Tôi không quen thứ men đắng chát nên rũ rượi. Chi cũng say khướt. Nó khóc, cười trong vô thức. Nó bảo quê nó đang mùa đãi sạn. Nó kể nhiều thứ, lẫn lộn. Tôi thấy mình ngụp lặn trên một con sông dài đang mùa nước cạn, những bàn chân đẫm nước, ken vàng và sần lên những hình thù kỳ dị. Ở đó có cả một người đàn bà với ba đứa con không cùng họ. Ở đó chỉ đông đúc khi mùa nước cạn, lũ lượt người ra đi từ mờ sáng gồng lưng đãi sạn và nhặt những con hến vàng nhạt bé bằng ngón tay cho bữa cơm chiều khi đã mờ mịt tối. Chi xoãi bàn chân mình. Thật lạ, Chi có khuôn mặt đẹp, một thân hình đẹp nhưng đôi bàn chân đối nghịch. Những cái móng chân màu hồng nhạt như chợt giãn dần ra, to mãi rồi vỡ nát, nhường lại cái thứ nước phèn vàng ken dày. Cái thứ váng nước mà dù có phủ lên bao nhiêu thứ sơn mới vẫn gồ ghề và sân si hằn nét rõ ràng trên từng vân móng…

Rưng rức khóc. Tôi ngủ trong nhộn nhạo của mùi cồn, nước mắt và những ảo giác.
Đã là tháng tư. Tháng tư mùa này ở quê thường mưa bất chợt. Mưa lớn như thác đổ. Đêm đến, khi ánh sáng đèn nhập nhòa le lói thì mối ra nhiều vô kể. Kiếp phù sinh này chỉ ồn ã trong một đêm mưa tạnh rồi rụng cánh chết tràn lan. Tôi mệt nhoài với những cánh mối nhẹ tênh, quét hoài vẫn bay loanh quanh tứ phía. Ngoài nghĩa trang, những cánh mối chất dày hơn nhưng chúng nằm im bởi đẫm ướt sương đêm. Bất giác, tôi thấy mình trở nên bất động xanh cỏ như những ngôi mộ im lìm.

“5 năm nữa nhé!”

“Anh cần thời gian đó. Mà cũng có thể hơn”.

“Là giấc mơ sao?”

Im lặng.

Tôi nói với anh những lời cay đắng nhất để rồi sau đó một mình ngụp lặn trong nỗi cô đơn tưởng chừng như vô tận. Tôi lại ào đến, nước mắt lại gột rửa hết mọi dỗi hờn, để chấp nhận một thế cờ tự mình sắp đặt. Cái nốt ruồi trên cổ áo cứ chập chờn ẩn hiện. Cái nốt ruồi mà cái thuở tôi còn chân đất cởi trần, ông thầy bói dạo đã phán rằng số người chỉ có thể làm kiếp tình nhân. Tôi đứng trước tấm gương mờ nước, chà xát đến bỏng rát. Tôi thương tổn chính mình như chính Chi từng làm thương tổn đôi bàn chân tội nghiệp. Sự thương tổn để chối từ những ý nghĩ cứ chập chờn ẩn hiện trong trí óc.
Tôi xua đi cảm giác trống vắng và cô đơn tột độ với lịch làm việc dày đặc. Tôi sợ những lập trình cũ kỹ nhàm chán như một quỹ đạo xoay vòng sẽ làm thừa thãi bao nhiêu thời gian để tôi có sức hoài nghi chính mình. Vậy nên cho dù đã nộp bài đủ định mức, tôi vẫn lao đi với những chuyến đi dài ngày, tận hang cùng ngõ hẻm để tự đày đọa mình quên đi và  chỉ trở về nhà khi đã mệt nhoài.

Vậy mà hằng đêm, trước khi chìm vào mộng mị, có cả chục cuộc điện thoại được gọi đi chỉ để nghe một tiếng ò í e vô nghĩa. Mọi thứ với anh đều thật nhẹ, thật bình thản.

Đã có lúc tôi thử bỏ đi đâu đó để rồi chỉ mấy ngày, như con thú bị thương, cần vành môi rất nhẹ ấy xóa hết những đau đớn, bụi bặm đợi chờ. Đã có lúc tôi thề sẽ bóp vụn trái tim ấy chỉ để cất kỹ cho riêng mình.

Tôi mơ nhiều về người phụ nữ ấy hơn. Chi cười ngạo nghễ, chỉ cho tôi con đường phía trước. Tôi đi chân trần, đạp lên vô số những cánh mối mỏng tang. Có cánh vươn trên tơ nhện phất phơ trước gió. Tôi lại hóa thành cánh mối mắc trên hằng hà tơ nhện…

Chi rũ xuống như một tàu lá héo. Suốt một tuần liền nằm liệt. Điện thoại reo liên hồi rồi tắt lịm. Cái tạp chí của nó thiếu những tin giật gân và sốt dẻo quả cũng sốt ruột. Chi hay nhếch mép trước những bài viết của chính mình, cái mà nó nói “chỉ toàn, những chuyện xương xẩu”. Có ai ngờ người đàn ông mà nó gọi “người tình không tuổi” lại chính là cố nhân của mẹ mình.

Chi trầm tĩnh hơn lúc bước lên tàu. Bấy giờ đã cuối tháng tư, sông đang mùa cạn nước. Tôi trở về với sự cô đơn. Bỗng chốc mọi thứ trở nên dễ chấp nhận hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ đến ngày anh đến tìm ở nơi này nhưng không gặp. Sẽ gọi nhưng chỉ nhận được những âm thanh vô nghĩa. Tôi nghe tiếng Chi hòa trong tiếng nhà ga ồn ã “Nước hến đục ngầu nhưng rất ngọt”. Lần đầu tiên, tôi ngủ một giấc dài không mộng mị…

<>

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Đi qua mùa bóng đổ

07 Tháng Tám 2010 1:08 CH (GMT+0700)
 



Nàng rời cơ quan với tâm trạng mệt mỏi. Chiếc điện thoại trong túi xách giờ cũng đã không còn đổ chuông nữa. Nàng mở cửa và chẳng bật công tắc điện. Ngoài phố đã lên đèn. Chúng hắt ánh sáng nhợt nhạt lên ô cửa kính tạo những mảng tranh tối tranh sáng cho căn phòng. Lúc này, một không gian như thế lại làm cho nàng cảm thấy bình yên hơn.

“Nhã San, sao em không nghe máy?”

“Nhã San,hãy cho anh một cơ hội…”

“Nhã San…”

22 tin nhắn. Nàng co rúm người trên chiếc ghế sofa nơi phòng khách. Có tiếng muỗi vo ve trên cánh tay, những hình ảnh giữa hiện tại và quá khứ cứ vây lấy nàng.

***

“Bố con đâu hả mẹ?” - câu hỏi đó cứ lặp đi lặp lại suốt tuổi thơ của nàng.

“Không, con chỉ có mẹ và chỉ hai mẹ con mình là đủ!”. 

11 tuổi, nàng hay khóc ở trường mỗi khi nghe đứa bạn bảo: “Bố vừa mua cho mình con búp bê. Nó biết cười và cả khóc nữa! Nhã San sẽ không bao giờ có vì bạn không có bố!”. Thế nhưng, khi trở về nhà, nhìn ánh mắt lo âu và vòng tay âu yếm của mẹ, nàng lại tin: “Ừ, chỉ mẹ con mình là đủ!”.

Nàng về nhà sớm hơn mọi ngày . Có một đôi giày phụ nữ - nhà nàng có khách. Mà sao lạ quá,chỉ có tiếng người khách và sự im lặng đến khó hiểu của mẹ: “Nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ là bị tước đoạt mất người đàn ông của mình… Mà làm sao chị hiểu được điều này…”.
Hôm đó là sinh nhật lần thứ 16 của nàng.

***
Tách cappuccino sóng sánh đổ tràn xuống mặt bàn khi Huy nắm lấy tay nàng: “Anh biết điều đó…, nhưng Nhã San à, em đã vô tình trở thành một thứ quá lớn trong cuộc đời anh rồi…” 

Hương cappuccino len đầy góc quán. Nàng thấy phảng chiếu nơi mặt kính là gương mặt mẹ nàng, dịu dàng, khổ đau và cam chịu. 

Xếp lại tất cả công việc ở tòa soạn, nàng xin nghỉ phép hai tuần. Nàng cũng không có ý định về nhà vì sợ nhìn vào ánh mắt thẳm sâu và mênh mông của mẹ. Mấy cây hoa dầu cuối phố đổ bóng xuống lòng đường hiu hắt.

***
Già làng Chơ-ro đón nàng như đón đứa con trở về với núi rừng. Đây là lần thứ hai nàng trở lại nơi này. Đêm nay làng Chơ-ro mở hội. Trăng tuôn đầy trên mái nhà rông. Rượu cần chung chiêng, nàng cũng chung chiêng… Già Chơ-ro không hỏi song vẫn nhận thấy sự đổi khác nơi nàng. “Con đang chạy trốn chính mình. Rừng chỉ cho con sự bình yên chứ không thể cho con tìm cái gì đã mất…”. Trên vách nhà rông còn treo tấm ảnh cả đoàn khi tới đây làm phóng sự. Nàng nhìn ra những tán lá lấp lóa ánh trăng để tránh cái nhìn của Huy từ nơi ấy.

“Thừa em ở phía đời anh/ Thiếu em ở phía đời dành cho em/ Ước gì ta được hóa thêm/ Hai người nữa để ấm êm hai nhà…” - Nàng lẩm nhẩm mấy câu thơ của một tác giả nào đó như để tự nói với trái tim mình. 

Suốt mấy ngày nàng rong ruổi theo những khe suối để chụp ảnh. Thiên nhiên hoang dã, nước suối ngọt mát và những chàng trai cô gái Chơ-ro đáng yêu cuốn nàng vào một cuộc sống mới. Một cuộc sống rực rỡ sắc màu thổ cẩm. Nàng tập trung những đứa trẻ lại thành một lớp học nhỏ. Chúng háo hức nghe nàng kể về một thế giới đầy những điều kỳ thú mà nàng biết và cần mẫn tập viết những chữ cái mà nàng dạy. Không biết bằng cách nào mà Huy biết nàng đang ở đây. Huy đến, gương mặt hốc hác, gầy rộc. “Đầu tháng sau, anh sẽ sang Canada định cư. Chúng ta cần một sự thay đổi, và người đó sẽ là anh…”.

Sân bay đông nghịt. Nàng không dám ra tiễn một mình. Nàng không dám nhìn vào ánh mắt ẩm ướt của chị, hai sự yếu đuối chạm nhau sẽ tạo thành một khoảng lặng!

Nàng nắm chặt tay Dũng. “Tiếc là hai người không kịp dự đám cưới của Nhã San!”. Dũng cũng siết tay nàng thật chặt, mặc dù Dũng biết, nàng chỉ coi mình như một tấm bình phong, ngay cả lúc này và cả những khi bị mẹ thúc giục, nàng hay đưa Dũng về nhà… 

Huy vẫn mail cho nàng vào mỗi tháng, hỏi về đám cưới và kể về những mùa thu lá phong. Mùa này, rừng Algonquin cách Toronto gần 300km ngập trong sắc đỏ. Nàng thường lái xe lòng vòng trên những con đường hoa dầu quen thuộc mỗi khi rời khỏi tòa soạn. Và mỗi ngày, nàng đều nhận được tin nhắn từ Dũng “anh phải đợi bao nhiêu mùa hoa dầu nữa?”

Qua rồi cái cảm giác trống vắng đến lạ, nàng thấy lòng mình hoàn toàn bình yên, bình yên như những hàng hoa dầu cuối phố, bình yên trổ hoa và xoay tít cuối mùa…

Nguyên Hậu

Giấc mơ màu hoa cải

07 Tháng Tám 2010 7:00 SA (GMT+0700)



Mẹ đánh điện vào chỉ mấy dòng ngắn ngủi: “Con thu xếp về ăn đám cưới dì Ngà, ngày…, tháng…”.

Gạt những câu hỏi ngổn ngang trong lòng, tôi cố vỗ về mình. Ừ, thế là qua một chuyến đò!

***
Tôi về tới bến Vọng khi trời vừa sáng. Lão Vạn già nua ngồi trầm ngâm đợi khách sang sông. Ngày xưa lão ở một mình trên doi đất phía tây làng Đò. Nơi đó có một cái chòi lá và một ao sen trắng. Chú Ngạn em lão đi làm xa, thi thoảng có ghé về thăm. Tinh mơ, khi mẹ tôi vừa quang thúng ra bãi khoai thì tôi cũng men theo bãi bồi sang chòi lão Vạn. Và thế nào, khi về, lão cũng hái cho tôi vô số những gương sen mây mẩy hạt. Thế mà giờ, lão đã không còn nhận ra con bé ngày xưa ấy nữa.

hc100807.jpg
Minh họa: NGỌC LÊ

Lão rít thuốc, khói trắng bay ám vào gương mặt khắc khổ lại hóa thành xa xôi mờ ảo.

“Con là Vân đây mà!”.

Gương mặt lão nhăn nheo, mắt vẫn đăm đăm ra bến : “Thằng Ngạn đi rồi, đi thật rồi..”

***
Sau ngần ấy năm, nhà tôi vẫn không thay đổi gì nhiều. Cả mảng sân nơi đầu hồi rêu xanh phủ kín. Đầu ngõ khế chín rụng vàng lối đi. Dưới gốc khế này, chú Ngạn thường trèo lên chọn những quả ngon nhất chuyền cho dì Ngà đặt lên phiến đá nơi giếng nước rửa sạch.

Ở tuổi 35, cái tuổi mà ở cái làng Đò này liệt vào dạng ế, thì dì Ngà vẫn cứ sắc nước hương trời đến thế. Cái hương sắc chẳng thể mang lại hạnh phúc bình dị…

Mẹ vui khi tôi về nhưng không giấu được tiếng thở dài.

“Con về một mình sao?”

Tôi ra trường, tất bật với những chuyến đi xa, với những bài viết của mình. Hôm đưa tôi ra ga, Huy bảo: “Lần này em về nghỉ ngơi đi. Và vứt cả những phù phiếm của mình nữa. Chúng ta cưới nhau đi!”.

Tôi nghe như gió thoảng qua tai. Lên tàu. Không ngoái lại.

Huy là người khuôn mẫu. Huy sinh ra trong một gia đình khuôn mẫu, làm việc trong một môi trường thuận lợi. Với anh mọi thứ đều bằng phẳng và anh cần một mẫu người an phận, biết nghe lời. Anh cần một người vợ biết đón và luôn đợi chồng mỗi buổi chiều tan tầm. Tôi như viên sỏi xanh nơi bến Vọng, đầy những mặt đối lập gồ ghề, vậy mà cũng thành một tình yêu!

“Dì có yêu người ấy không?”

“Người ta yêu dì…”. Tôi thấy mắt dì ươn ướt khi quay đi, bỏ lửng câu trả lời.

Chồng sắp cưới của dì là một kĩ sư trong đoàn thăm dò lưu vực sông để xây một chiếc cầu sang bến Vọng. Hôm đưa dâu, đò lão Vạn đi cuối. Tôi ngồi bên dì, mấy lần tôi thấy mắt dì ngân ngấn nước, nắm lấy vạt áo lão Vạn. Trẻ con chưa bao giờ thấy một đám cưới to như thế và cô dâu đẹp như thế nên chạy theo reo hò kín một khúc sông. Đứa nào đứa nấy đầu trần chân đất, đen nhẻm. Chúng đâu biết rằng rồi chúng cũng sẽ như tôi, như dì Ngà. Ngày ngày tắm nước bến Vọng, ăn khoai ăn cải bến Vọng và một ngày, đò sẽ đưa chúng trôi đi, xa hút tận chân trời để theo đuổi giấc mơ với bao màu sắc lạ.

Thuyền đi qua, bỏ lại bên sông mấy vạt hoa cải cuối mùa. Bỏ lại bãi khoai hết mùa thu hoạch. Bỏ lại cây gạo chỉ còn trơ mấy chiếc lá. Bỏ lại mùa hoa cỏ voi phất phơ trong gió…

“15 năm dì đã đợi. Nếu chú Ngạn còn nhớ bến Vọng mà trở về thì cho dì lỗi hẹn…”.

Đò càng xa, tiếng dì cũng xa dần xa dần…

Sau đám rước dâu, lão Vạn bỏ đò nằm co quắp trong chòi. Tôi chợt hiểu ra rằng, dì Ngà là niềm hy vọng cuối cùng của lão. Dì Ngà còn ở vậy ngày nào thì lão còn hy vọng đứa em trai lưu lạc sẽ trở về ngày ấy. Lão cũng khổ tâm bao nhiêu khi phải lấy sự ích kỷ để đổi lấy một niềm hy vọng…
Ngày đó trai làng bao đám ngấp nghé dì Ngà, chú Ngạn không một tấc đất cắm dùi, quyết ra đi không rạng mặt thì chẳng trở về.

Tôi sang chào lão Vạn để sáng mai lại đi. Đêm đó lão uống rượu suông, lão bảo còn một vật chú Ngạn chưa kịp đưa cho dì. Tôi đón từ tay lão một chiếc vòng bạc.

Tôi gọi đò khi tinh mơ. Ra giữa sông, tôi thả chiếc vòng xuống. Mặt sông lấp lóa, trong veo. Tôi thấy phản chiếu nơi đó hình ảnh dì Ngà, giờ đã là người thành phố, trong một ngôi nhà kín cổng cao tường, trong một căn phòng đầy đủ tiện nghi. Mà sao ánh mắt dì đăm đăm đến lạ.

Đò lại xa. Ngày mai tôi lại là người của phố, của những chuyến đi. Nhưng tôi biết rằng, trong mỗi giấc mơ của mình sẽ có màu hoa cải hai bên bờ sông. Và tôi sẽ viết, viết về những giấc mơ bến Vọng.

Nguyên Hậu

Mưa ở Dốc

06 Tháng Ba 2011 6:00 CH (GMT+0700)
 
 
 
 
Mấy hôm liền thời tiết xấu không thể tưởng. Các quán café khác nằm bẹp gí, lướt thướt và thưa thớt khách. Vậy mà Dốc vẫn đông. Dốc đông vì có hắn. Hôm khai trương Dốc, người ta mang đến một bức tranh lập thể với những mặt phẳng giao nhau một cách kỳ dị. Chúng như nổi loạn dưới một bàn tay cũng cực kỳ nổi loạn và xáo trộn trong tâm hồn. Bởi vậy khi nhìn vào, khó có thể nhận ra đâu mới chính là chiều sâu thật của bức tranh.

bartender110306.jpg
Minh họa: P.T.S

Chủ Dốc là một phụ nữ rất trẻ và đẹp. Người ta ngắm Dốc để cân bằng giữa một bên là sự chênh vênh của quán, một bên là sự đài các và dịu nhẹ của người phụ nữ ấy. Cô chủ cho treo bức tranh đó nơi tâm điểm của Dốc, nơi mà từ quầy bar, nàng có thể nhìn nó mỗi ngày.

Hắn đến trong ngày đầu tiên Dốc treo bảng tuyển bartender, như một cơn gió. Vết sẹo chạy dài từ đuôi mắt đến mai tóc khiến hắn được mọi người chú ý hơn trong vai trò người tìm việc. Cũng chính vết sẹo làm gương mặt và đôi mắt u buồn trở nên lãng tử. Hắn đẹp và thu hút.

Hắn có thể pha hàng trăm loại cocktail, mocktail, đó là chưa kể món capuchino. Những ngón tay dài và thon, những cái lắc tay điệu nghệ và cả ánh mắt rất lạnh, dường như chỉ tập trung vào công việc và làm người khác nghĩ: hắn sinh ra là để làm bartender.

Thời tiết ấm dần lên khi bắt đầu chuyển sang xuân. Biển phía sau lưng Dốc trầm lắng hơn nhưng vẫn trắng sóng mỗi chiều. Càng ngày, các cặp tình nhân càng tới đây nhiều hơn vì họ say mê cái nồng nàn đến kỳ diệu của những ly capuchino hay cocktail của quán. Hình như vòng xoay của cuộc đời được đặt cược và ví như một ngày ở Dốc với nhiều trạng thái, cung bậc. Nó nóng bỏng như các thứ rượu cồn pha lẫn thứ xirô bạc hà the, khi đưa lên cổ nồng cháy rồi chảy dần vào thanh quản để đọng lại dư vị ngòn ngọt nồng nồng. Người ta đắm mình trong những hoang phế lẫn lộn, của sự trầm mặc u tịch phía bên kia tháp cổ, của ồn ã dịu vợi phía lăn tăn sóng. Cũng có người đến Dốc chỉ để cầm trên tay ly capuchino, nhìn bức tranh và cả những giọt nước li ti mờ ảo phía bên kia những mặt kính ghép hình tứ giác. Mọi hình ảnh phía sau nó đều không hiển hiện thật mà trở nên nhòa hơn, lấp lánh hơn. Có lẽ khi đến đây, mọi người được đắm mình trong không gian riêng, tự thanh lọc mình để tiếp tục vòng xoay của ngày mai, ngày mai nữa.

Mấy hôm nay cứ lúc vào bar ghi phiếu là các nhân viên truyền miệng nhau tin mới. Chung quy lại là hình như vị hôn phu của cô chủ sắp về nước, hình như Dốc sắp chuyển sang loại hình kinh doanh khác… Tất cả rời rạc, chắp nối và không ăn nhập nhưng dù vậy, nó cũng đủ làm cho không khí quán nhộn nhạo khác thường. Có thể lắm, bởi phía sau lưng Dốc là biển, bên cạnh là con đường quanh co dẫn lên ngôi tháp cổ. Dốc là tâm điểm, là niềm khao khát cho mọi con mắt có tầm nhìn trong kinh doanh. Vị hôn phu của cô chủ về thật nhưng không hề đặt chân đến quán. Mấy buổi sáng liền hầu như ngày nào cô chủ cũng tiếp vài người đến xem không gian quán. Họ đi hết tất cả các bàn, và dừng lại lâu hơn bên quầy pha chế. Tất nhiên, với những con người này, khi trí óc họ sinh ra gần như để lập trình cho việc tư duy kinh doanh thì chắc chắn, họ dừng lại không phải vì hương mocktail của hắn. Thật lạ, trong khi số nhân viên bắt đầu nghĩ đến việc xin vào một tiệm café nào đó dọc theo bờ biển, hoặc cũng có thể là một chân nhân viên phía bên kia khu resort thì hắn vẫn rất điềm tĩnh. Hắn đến quán sớm hơn thường nhật và ra về muộn hơn khi đã say khướt. Người ta ái ngại cho cái dáng chông chênh của hắn khi dắt chiếc xe cà khổ xiêu vẹo đi dưới mưa. Bấy giờ đã qua tháng Giêng, mưa thi thoảng đổ xuống, và khoảng cuối tháng hai, nàng sẽ theo vị hôn phu của mình đi đến một nơi xa lắc nào đó.

Vẫn chưa đến tháng hai, vậy mà hắn biến mất. Câu chuyện của các nhân viên  trong lúc rỗi nhàn lại xoay theo một chủ đề mới. Đó là chuyện của một đôi trai gái, hình như học ở trường mỹ thuật, hình như họ bị tai nạn giao thông và hình như sau đó cô gái mất hoàn toàn trí nhớ… Thời gian sau người ta thấy chồng sắp cưới của cô chủ đến quán. Đó là người đàn ông đẹp và thành đạt, lần nào đến cũng rời quán một mình. Giữa họ có điều gì đó bất ổn. Các nhân viên nhấp nhổm khi càng gần tới cuối tháng hai song gần như mọi việc vẫn theo quỹ đạo cũ. Dù khách thưa hơn nhiều so với trước và khi đi ngang quầy pha chế, không ai còn bắt gặp cái dư vị nồng nồng ngòn ngọt lẩn khuất nữa. Có nhiều người khách quả quyết rằng đã đi gần như khắp các bar, các tiệm café lớn nhỏ trong thành phố nhưng không hề hấy bóng dáng hắn. Chỉ có cô chủ hầu như không hề quan tâm đến doanh thu và sự thưa hơn của quán. Hình như cô đang rượt đuổi theo một ký ức mơ hồ nào đó vì có lúc qua quầy bar, mọi người bắt gặp cô ngồi bất động như một pho tượng. Rồi cô bỗng ào đến bên bức tranh và lật ngược nó lại trước sự ngạc nhiên của toàn bộ nhân viên. Trên nền xanh xám đan xen nổi lên một con đường hun hút dẫn lên tháp cổ. Có thể do ánh trăng bàng bạc và cách phối màu hỗn độn làm cho bức tranh trở nên cô quạnh và đa chiều. Nó gợi nhớ những buổi chiều lang thang với những bảng màu, cọ vẽ loanh quanh bên tháp.

Tháng Giêng, mưa hay đổ về đêm. Quán vẫn thưa và trầm mặc hơn song cô chủ lại cười nhiều hơn vì cô biết rằng, chắc chắn, tác giả bức tranh kia sẽ quay trở lại.

Nguyên Hậu

Bầy vịt lông xám trở về

19 Tháng Mười 2010 7:00 SA (GMT+0700)
 
 
"Phải chi có má”- thằng nhỏ thường ước vậy mỗi khi theo cha nó lùa bầy vịt đi qua những cánh đồng đang mùa nước nổi, chấp chới từng chòm cỏ lác ngập hơn phân nửa và tiếng cá quẫy nước thâu đêm. Nó cũng hay bắt chước cha xòe mười đầu ngón chân bấm sâu vào lòng đất nhão khi di chuyển trên cánh đồng cho khỏi trượt chân và tập gút cọng cỏ lác dài để xâu những con cá bống, cá sặc con mừng nước lách đi mắc cạn. Cái gì nó cũng hỏi cha được, song chỉ có một điều duy nhất nó không bao giờ dám nhắc.

chan-vit101017.jpg
Năm 5 tuổi, cái tuổi mà ý thức về tình thân bắt đầu định hình rõ hơn đôi chút, nó hỏi về má. Thật lạ, cha nó vốn dĩ hiền lành là vậy, bỗng chốc đáng sợ lạ thường. Trên gương mặt chữ điền vuông vuông sạm nắng, nó thấy một bên cơ má ông giật giật và ánh mắt ông quắc lên, quét qua một tia nhìn giận dữ. Rồi nó 6 tuổi, vẫn những ngày rong ruổi bên đàn vịt lông xám và mang theo câu hỏi đó trong cả giấc ngủ của mình.

Năm nay mưa đến sớm. Mới đầu tháng 9 mà ruộng ngập mút bờ, cua con bò theo dòng nước xiết. Lũ cua vừa thay vỏ, non oặt ẹo cũng nhiều vô kể nên bầy vịt tròn căng. Nó mong được ở lại đây nhiều ngày hơn, được chơi nhà chòi với con Sứa trống răng, được ăn bánh dì Tư cho mỗi bận theo cha đi giao trứng vịt. Và còn chiều chiều ngồi trước sân lớp học mẫu giáo, vạch xuống đất theo chữ O cô vẽ lên bảng. Cái chữ mà chỉ cần thêm một cái miệng trống hai cái răng cửa là thành cái mặt con Sứa. Thằng nhỏ coi bộ thích thú nhất vì cái phát hiện to lớn này, nên mỗi một lần thêm một nét gì, nó lại hình dung con Sứa ngồ ngộ hơn bình thường một chút và cười suốt cả buổi chiều. Nó vẽ một chữ O to hơn, thêm râu thì thành cha. Mà cha còn ngộ hơn nhiều con Sứa. Lạ một nỗi là đi đến đâu, cha nó đều được các cô, các dì quý lắm, nhưng chưa bao giờ ông dừng lại nói với họ quá hai câu. Đôi lúc ông mang về cho nó áo len, dép nhựa cũ từ những người đàn bà ấy, song cũng tuyệt nhiên không có thứ gì cho riêng ông. Quanh năm, ông chỉ độc cái quần rách te, cộc tới gối và chiếc áo cũ phanh ngực. Thằng nhỏ hay liên tưởng đến hình ảnh nửa đêm, cha dậy rít thuốc trong lều bạt, chiếc bóng in lên vách qua ngọn đèn bão với cha lúc ban ngày không khác nhau là mấy. Dì Tư hay sai con Sứa mang khi thì bánh rán, khi thì đậu phộng thắng đường lên lều cho. Thường cha ít nhận thức ăn của ai cho bao giờ, riêng của dì Tư, ông không cấm cũng chẳng nói gì nên nó được vô tư ăn. Thi thoảng ông cũng gửi lại khi thì xâu cá, khi thì cả đó cua đồng cho dì nấu canh riêu.

Chiều nay, mây đen vần vũ. Gió về nhè nhẹ nhưng lạnh gờn gợn da.

Cha nhìn trời đất một hồi thì bắt đầu đi cắm chặt lại lều trại, quây đàn vịt thành khóm chứ không rong đi như thường lệ. Gió mỗi lúc một nhiều hơn, rồi mưa. Ban đầu nhìn về phía làng còn mờ mờ một vệt của rặng dừa nhà ông Tám Năng đầu xóm. Thoáng chốc chỉ còn lại một lớp màn trắng xóa.

Bầy vịt rạp hết xuống trong mưa, tiếng kêu lạc đi trong tiếng gió mưa ầm ào hỗn độn. Căn lều bạt hứng căng nước mưa, không chịu nổi sức chứa của nước đổ ập xuống. Hai cha con lướt thướt và rét run từng đợt. Nước ngập cả vòng giây lưới chăn bầy vịt nên chúng tán loạn khắp nơi. Gần nửa đêm, cánh đồng mênh mông nước. Cha quầy quả cõng nó lên lưng, khua bầy vịt vào thành khóm đi về hướng làng, nơi đó đất cao hơn cánh đồng.

Trời tối đen, tiếng vịt kêu thưa dần và chìm trong nước. Nước nhiều vô kể.

Mới ròng ròng tới đầu gối, tới thắt lưng rồi dần tới bụng. Có những rãnh mương mà thường ngày nó hay tát đìa, giờ chìm nghỉm giữa bao la nước nên cha sải chân mấy lần. Và lần nào, nó cũng bị ngoi nước suýt ngạt thở.

Cha phải dừng lại trên một doi đất cao hơn, cẩn thận buộc chiếc can nhựa to sau lưng nó rồi tiếp tục lần đi trong màn mưa. Phía xa, có ánh đèn bão chao lắc. Khi chân tay nó bắt đầu tê cứng và răng va vào nhau cầm cập vì lạnh, nó thấy dì Tư lách chiếc xuồng con vừa tới. Hình như xuồng bị va vào cây nên nước tràn vào, dì cứ vừa đi vừa tát nước. Khi nó yên vị trong lòng xuồng thì cha nó cũng mất hút trong làn mưa tối mịt…

Sáng, con nước rọt dần. Cha về với bầy vịt không được phân nửa. Qua một đêm mà mặt cha hốc hác và già đi trông thấy. Cha rũ xuống như tàu lá chuối xơ xác trong đêm mưa. Rồi cha kêu nó ở lại hẳn nhà dì Tư, còn ông lại lùa bầy vịt đi. Nó quẫy đạp trong tay dì Tư để cố chạy theo.

Cha huơ cây sào lùa lũ vịt lầm lũi đi, không ngoái lại. Nó rưng rức khóc.

Giờ nó không còn ngồi vạch những chữ O đầy liên tưởng ngộ nghĩnh xuống nền đất nữa mà đi học cùng con Sứa. Nó thích nhất được xuống chợ huyện bán trứng cùng dì Tư. Mỗi lúc như thế, nó ngồi hàng giờ nhìn những rổ trứng trắng hồng, tưởng như mỗi sáng còn chạy theo cha ra ổ rơm nhặt trứng của bầy vịt đẻ lúc đêm. Nó cũng chưa biết má là như thế nào nhưng lại bắt chước con Sứa kêu dì tư bằng má. Trong giấc mơ, nó hay mơ về cánh đồng xâm xấp nước. Mơ về những con cua sữa mềm và bàn chân tõe mười ngón cắm sâu vào mặt đất. Mờ sáng, nó loáng thoáng nghe tiếng vịt kêu, tiếng sào khua sau mảnh vườn nhà dì Tư. Rồi bầy vịt về đông vô kể, những con vịt tròn căng của mùa đẻ đồng. Đúng là bầy vịt lông xám đã cùng cha trở về với nó vì hình như, nó thoáng thấy mắt dì Tư như có nắng chiếu vô.

Nguyên Hậu